Thủy điện vẫn là nòng cốt.

14:57 23-07-2013

Lượt xem: 3385

Theo chiến lược phát triển Điện Việt Nam và Quy hoạch phát triển điện lực Quốc gia các giai đoạn của Chính phủ, năng lượng tái tạo như điện gió, mặt trời, thủy điện... sẽ được ưu tiên phát triển, đặc biệt là các công trình thủy điện có lợi ích tổng hợp (cấp nước, chống lũ, chống hạn...), khuyến khích đầu tư các nguồn thủy điện nhỏ với nhiều hình thức để tận dụng nguồn năng lượng sạch, tái sinh này nhằm đáp ứng nhu cầu cao về năng lượng cho phát triển kinh tế - xã hội của cả nước.

 

 

Phát biểu tại Hội thảo Việt Nam - Na Uy về thủy điện và cải cách thị trường điện mới đây, Thứ trưởng Bộ Công Thương Cao Quốc Hưng cho biết: Việt Nam có nguồn tài nguyên năng lượng phong phú như than, dầu khí, thủy điện và năng lượng tái tạo. Hiện tại, các nguồn năng lượng hóa thạch đang ngày càng cạn kiệt, các nguồn thủy điện lớn đã được khai thác gần hết. Vì vậy, để đáp ứng nhu cầu điện ngày một gia tăng phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh năng lượng và phát triển bền vững, Việt Nam đang thực hiện các biện pháp mang tính chiến lược, bao gồm: tăng cường đầu tư các cơ sở sản xuất năng lượng; giảm dần sự phụ thuộc vào năng lượng hóa thạch bằng cách đa dạng hóa việc khai thác và sử dụng các nguồn năng lượng; tập trung khai thác các nguồn năng lượng tái tạo sẵn có và phát triển điện hạt nhân; tích cực tìm kiếm và gia tăng trữ lượng các nguồn dầu, khí thiên nhiên cũng như đẩy mạnh việc sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, ứng dụng công nghệ phát thải thấp… Bên cạnh đó, Việt Nam cũng cân đối sử dụng các nguồn tài nguyên, trong đó có việc khai thác hiệu quả thủy điện và cải cách thị trường điện.


 

Thứ trưởng nhấn mạnh, theo Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2011-2020, có xét tới năm 2030 thì tính đến 2020, tổng công suất tích năng của các hồ thủy điện dự kiến đạt 2.400MW và sẽ nâng lên 5.700MW vào năm 2030. Tuy nhiên, hiện nay phần lớn các nguồn năng lượng thủy điện cơ bản đã được khai thác hết và để đạt được mục tiêu trên, Việt Nam đang đẩy mạnh khai thác các nhà máy thủy điện vừa và nhỏ; tối ưu vận hành các nhà máy thủy điện trên cùng bậc thang thủy điện để đạt tối đa khả năng khai thác.

 

“Tỷ trọng thủy điện trong cơ cấu nguồn của Việt Nam hiện nay tương đối lớn lên tới khoảng 40% và dự kiến đạt tương ứng khoảng 36% và 25% vào các năm 2015 và 2020. Vì vậy, công tác vận hành hệ thống điện sẽ phải đối mặt với những khó khăn và thách thức liên quan tới công tác quản lý, phối hợp hài hòa và vận hành tối ưu các nhà máy thủy điện, đặc biệt là các nhà máy thủy điện trên cùng bậc thang nhằm đáp ứng các mục tiêu phát điện, tưới tiêu phục vụ sản xuất nông nghiệp, phòng chống lũ hạ du, đồng thời đáp ứng các tiêu chí liên quan tới môi trường” - Thứ trưởng Cao Quốc Hưng nói.

 

Cũng tại buổi hội thảo, đánh giá vai trò của thủy điện trong việc cung ứng điện đảm bảo các nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, các chuyên gia khẳng định: Việc đầu tư xây dựng các dự án thủy điện đã và đang góp phần quan trọng trong việc đảm bảo an ninh năng lượng nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của cả nước theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa. Riêng năm 2012, các nhà máy thủy điện đã đóng góp tới 48,26% công suất (13.000MW) và 43,9% (53 tỉ kWh) điện lượng cho hệ thống điện. Đây là nguồn năng lượng sạch, có khả năng tái tạo, giá thành rẻ hơn so với các nguồn điện khác. Quá trình đầu tư xây dựng và vận hành khai thác đã tạo nhiều việc làm cho các lực lượng lao động trong cả nước. Việc hình thành các hồ chứa thủy điện cũng góp phần quan trọng trong việc chủ động tích trữ để xả nước cho nhu cầu dân sinh, nông nghiệp và tham gia cắt giảm lũ cho hạ du, cải tạo môi trường, phát triển du lịch sinh thái, nuôi trồng thủy sản, giao thông thủy...

 

Đặc biệt, với tổng dung tích các hồ chứa lên tới hàng chục tỉ m3 nước, thủy điện cũng đã đóng vai trò quan trọng trong việc chủ động tích trữ để bổ sung lưu lượng, cấp nước về mùa kiệt và cắt giảm lũ phục vụ sinh hoạt, sản xuất, bảo vệ môi trường... cho hạ du. Và đây là nguồn dung tích trữ nước cực kỳ quan trọng, trong những năm qua đã góp phần quan trọng bảo đảm an ninh nguồn nước, đóng vai trò chủ chốt, đảm bảo chủ động điều tiết cấp nước và chống, giảm lũ cho hạ du đặc biệt là khu vực miền Bắc. Đồng thời với việc đầu tư xây dựng các dự án thủy điện, một số cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội như điện, đường, trường học, trạm y tế, nhà văn hóa... trong các khu vực tái định cư được nâng cấp, xây dựng mới khá đồng bộ và kiên cố, tạo điều kiện thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội và văn hóa cho người dân địa phương.

 

Một chuyên gia tư vấn cao cấp của Na Uy khi đưa quan điểm về việc phát triển các dự án thủy điện ở Việt Nam đã cho rằng, Việt Nam là quốc gia thiếu nước, vì vậy việc xây dựng các hồ chứa lợi dụng tổng hợp, thủy điện kết hợp thủy lợi vẫn được ưu tiên phát triển.

 

Tuy nhiên, chuyên gia này cũng cho rằng, việc đầu tư xây dựng các dự án thủy điện cũng đã gây ảnh hưởng đến dân cư trong khu vực dự án, đời sống sản xuất của nhân dân vùng tái định cư chưa được ổn định; chiếm dụng đất sản xuất nông nghiệp, đất rừng phần nào làm thu hẹp không gian sống, ảnh hưởng tới phong tục tập quán, văn hóa của người dân bản địa; tác động tiêu cực nhất định đến môi trường - xã hội… Đây là những vấn đề lớn còn tồn tại và cần phải tiếp tục giải quyết, đặc biệt là tại các dự án thủy điện vừa và lớn. Về vấn đề này, Chính phủ đang chỉ đạo các bộ, ngành xây dựng các đề án phát triển sản xuất, ổn định đời sống cho người dân tái định cư.

Và để đảm bảo phát triển thủy điện một cách bền vững, phát triển đi đôi với bảo vệ môi trường - xã hội, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo các bộ, ngành, các nhà máy thủy điện vận hành theo đúng quy trình được phê duyệt, bảo đảm hiệu quả phát điện, đáp ứng nhu cầu sử dụng nước của hạ du, cắt giảm lũ, hạn chế các tác động tiêu cực đối với hạ du; nghiên cứu ban hành quy định về giám sát thực hiện công tác bảo vệ và giảm thiểu tác động tiêu cực đối với môi trường, quy định về dòng chảy tối thiểu ở hạ du các hồ chứa, quy trình vận hành liên hồ chứa về mùa kiệt trên các lưu vực sông, tăng cường kiểm tra công tác quản lý vận hành các công trình thủy điện đảm bảo an toàn cho công trình, người dân.

 

Việt Nam có hơn 3.450 hệ thống sông, suối lớn nhỏ, tiềm năng thủy điện về lý thuyết khá lớn với tổng công suất khoảng 35.000MW và điện lượng khoảng 300 tỉ kWh/năm, trong đó miền Bắc chiếm khoảng 60%, miền Trung chiếm khoảng 27% và miền Nam chiếm khoảng 13%. Tuy nhiên, nếu tính toán về mức độ khả thi, có thể khai thác được khoảng 26.000MW (khoảng 100 tỉ kWh/năm), phân bố theo các hệ thống sông như sau: sông Đà 33%, sông Đồng Nai 13,8%, sông Sê San 10%, sông Vu Gia - Thu Bồn 5,2%, sông Srêpốk 4%, sông Lô - Gâm - Chảy 3,8%, sông Ba 2,4%, sông Cả 1,9% và các sông khác 22,3%.

 

Theo các quy hoạch đã được phê duyệt, cả nước hiện có 815 dự án thủy điện có tổng công suất 24.324,3MW. Trong đó, đã vận hành phát điện 268 dự án (14.240,5MW); đang thi công xây dựng 205 dự án (6.198,8MW), dự kiến đưa vào vận hành khai thác từ nay đến năm 2017, tổng dung tích phòng lũ thường xuyên cho hạ du là 10,51 tỉ m3.

Bài viết khác